RÁC THÁI- RÁC THẢI Y TẾ- Những cụm từ đọc lên đã thấy “nghiêm trọng” rồi!

 

Có thể nói rằng, ở Việt Nam hiện nay tốc độ phát sinh rác thải vô cùng lớn dao động từ 0,35 – 0,8kg/người/ngày. Chất thải là một trong những phần tất yếu của cuộc sống và được thải ra trong quá trình lao động, sản xuất và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người. Cùng với mức sống hiện đại ngày nay và công cuộc công nghiệp hoá ngày càng phát triển mạnh, lượng rác thải ngày càng căng cao với mức độ phức tạp, đang dạng đòi hỏi việc xử lý chất thải trở thành một vấn đề vô cùng nóng bỏng tại các quốc gia trên thế giới, và phải kể đến Việt Nam là một trong số đó.Trung bình 1 người Việt Nam thải ra khoảng 200kg rác thải một năm. Rác thải Y tế cũng là một phần nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe , môi trường sống của con người. Tuy nhiên hiện nay, việc xử ý rác thải- chất thải y tế tại Việt Nam vẫn còn nhiều điều bất cập.

Tại Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 13.149 cơ sở y tế, trong đó có 30 cơ sở trực thuộc Bộ Y tế, 12.259 cơ sở trực thuộc Sở Y tế cấp tỉnh và 860 các cơ sở khác. Đây chính là nguồn gây ra chất thải y tế chủ yếu. Theo Cục quản lý Môi trường y tế, trung bình, mỗi ngày các cơ sở y tế trong cả nước thải ra 380 tấn chất thải rắn. Trong đó, có khoảng 45 tấn chất thải y tế nguy hại. Hiện tỷ lệ tăng chất thải y tế rắn là 7,6%/năm. Dự tính tới năm 2020, lượng chất thải này sẽ tăng lên gần gấp đôi vào khoảng 800 tấn/ngày. Lượng chất thải lỏng phát sinh tại các cơ sở y tế có giường bệnh hiện nay vào khoảng 150.000 m³/ngày đêm, chưa kể lượng nước thải của các cơ sở y tế dự phòng, các cơ sở đào tạo y dược và sản xuất thuốc. Ngay cả ở các bệnh viện tuyến trung ương vẫn còn tới 25% cơ sở chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế, tương ứng với 50% và 60% ở bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện. Hiện nay, tại phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế, hoặc chưa có hệ thống xử lý nước thải y tế, hoặc hệ thống xử lý đã xuống cấp từ lâu, không còn đáp ứng được nhu cầu hiện tại. Thành phố Hồ Chí Minh hiện còn trên 40 bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước đạt chuẩn và 35 cơ sở khác chưa có hệ thống xử lý. Trong khi đó, ở Hà Nội, bệnh viện Việt Đức, cơ sở ngoại khoa lớn nhất nước cũng chưa có hệ thống xử lý đạt chuẩn. Khu xử lý nước thải tại đây được xây dựng từ đầu thập niên 1980 giờ đã lạc hậu và không thể đáp ứng được nhu cầu của bệnh viện. Trong số 400.000 m³ nước thải đổ vào sông Nhuệ, sông Đáy mỗi ngày (hầu hết không qua xử lý), có gần một nửa là nước thải bệnh viện. Ngoài ra, lượng thuốc thải y tế vẫn chưa quản lý được. Trong đó, chủ yếu là thuốc người dân sử dụng không hết, thuốc quá hạn sử dụng thường bị bỏ chung với rác thải sinh hoạt. Những hoạt chất trong thuốc khi xử lý chung với rác thải thông thường sẽ ảnh hưởng xấu tới môi trường và những người trực tiếp tiếp xúc với chúng.

Hiện tại Việt Nam đang áp dụng công nghệ xử lý rác thải y tế với công nghệ tiên tiến nhất kế thừa từ công nghệ của các quốc gia tiên tiến trên thế giới.

  •  Với chất thải rắn: Nước ta tồn tại 2 phương pháp xử lúy chất thải y tế rắn phổ biển:                                                              Phương pháp tiêu hủy thù công ( Chôn lấp hoặc đốt thủ công ở nhiệt độ thấp) và phương pháp đốt sửu dụng lò đốt chất thải y tế

– Chôn lấp là một phương pháp xử lý rác thải lạc hậu và gây ô nhiềm môi trường nghiêm trọng nhưng hiện vẫn đang được áp dụng ở nhiều bệnh viện kể cả bện viện tuyến tỉnh

– Phương pháp đố được có nhiều ưu việt hơn khi giảm thiểu khối lượng chất thải và xử lý khá triệt để trong một thời gian ngắn. Hiện tại, ở Việt nam đang suwe dụng phương pháp này bằng các lò đốt chất thải. Nhưng cả nước hiện tại chỉ có 200 lò chuyên dụng ( ở nhiệt độ cao và có 2 buồng) nhập khẩu từ các nước phát triển như: Thụy Điển, Mỹ, Bỉ, Pháp , Nhật Bản,.. hoặc tự sản xuất trong nước. Việc đốt lò quá tải là điều không thể tránh khỏi, rất gây hại đến môi trường xung quanh.

  • Với nước thải y tế:

Hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng chủ yếu công nghệ BioFast ATC là hệ thống xử lý nước thải theo công nghệ Mỹ, gồm các công đoạn : Yếm khí, hiếu khí, oxy hóa, khử trùng, khử mùi, có cấu trúc module. Gồm 3 giải pháp chủ lực :

– Ứng dụng thiết bị siêu khuếch tán khí (Super Aerobic) ó hiệu suất cao, khuếch tán khí tươi trực tiếp vào bể xử lý hiếu khí.

– Ứng dụng Plasma Ozone: Sản xuất khí Ozone (O¬3) tại chỗ, phun vào hỗn hợp bọt (khí + nước), xử lý nhanh tạp chất hữu cơ và vô cơ. Công nghệ Plasma cho phép sản xuất Ozone hiệu suất cao, từ 50g O3/h đến 500g O3/h và đạt hàm lượng đến 1% VL, khí đầu ra. Công nghệ Plasma có độ bền cao và không sản sinh khí độc NOx

– Ứng dụng hệ thống RmS (Remote Mutual SCADA), tự động hoàn toàn trong công việc vận hành, điều khiển và giám sát – quan trắc hệ thống xử lý nước thải. Thiết bị RmS được thiết lập trên nền computer công nghiệp. Hệ thống RmS là yếu tố quyết định cho tính an toàn tuyệt đối khi vận hành hệ thống xử lý nước thải và chi phí vận hành giảm còn 50% so với không ứng dụng RmS. Công nghệ khử mùi tiên tiến, công nghệ giám sát, điều khiển vận hành hoàn toàn tự động (RmS), nhờ vậy, hệ thống xử lý nước thải BioFast có chất lượng xử lý ổn định ở tiêu chuẩn cao, tránh được các sự cố do sơ sót của con người. Ngoài ra, hệ thống xử lý nước thải BioFast được thiết kế đặc biệt, có thể dễ dàng chuyển đổi hoặc nâng dung lượng theo nhu cầu sử dụng của bệnh viện. Hệ thống còn có các chức năng được mở rộng như xử lý nước và tạp chất cực kỳ nhanh, dự phòng khi xảy ra dịch bệnh, số lượng bệnh nhân tăng đột biến. Trong quá trình hoạt động, vi sinh yếm khí và hiếu khí sẽ phát sinh một lượng lớn khí độc và khí hôi như CH4, H2S, NH3, NOx, CO2 và các hơi acid hữu cơ khác. Hệ thống BioFast có module xử lý khép kín và thu gom triệt để khí thải trước khi thải ra ngoài. Đây cũng là hệ thống xử lý nước thải duy nhất tại Việt Nam hiện nay có khả năng khử mùi hôi và tiêu diệt khí độc.

Tuy nhiên, lượng chất thải y tế ngày càng nhiều vì cuộc sống càng nâng cao, xã hội phát triển, nhu cầu khám chữa bệnh , bảo vệ sức khỏe càng được đề cao. Chất thải y tế là một vấn đề bức thiết của toàn xã hội bởi sự nguy hại của chúng không chỉ tới môi trường mà còn cả sức khỏe con người. Sự quản lí chưa sát sao của các đơn vị có liên quan và sự lỗi thời, cũ kĩ của hệ thống xử lý chất thải tại các cơ sở y tế đang làm trầm trọng thêm tình hình. Nhà nước cần cso những giải pháp ụ thể, hiệu quả. Người dân cần có ý thức, trách nhiệm tốt hơn cùng hớn tới môi trường xanh- sạch- đẹp

 

Share this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


084.7669.666